
Tiếp nối thành công với giống gà Mía số 1 bằng phương pháp chọn giống BLUP kết hợp RFI, Dabaco tiếp tục ra mắt gà J số 1 cho năng suất, chất lượng vượt trội.
Chia sẻ với người chăn nuôi tại Hội nghị khách hàng và ra mắt sản phẩm mới J số 1 Dabaco tại Quảng Ninh mới đây, GS.TS, NGƯT Đặng Vũ Bình, nguyên Hiệu trưởng Đại học Nông nghiệp 1 (nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam) cho biết, trên thế giới có hai phương pháp chọn tạo giống gia cầm phổ biến, một là theo phương pháp di truyền phân tử chọn giống theo bộ gen (Genomic Selection), hai là theo di truyền số lượng hay còn gọi là chọn giống theo kiểu hình và hệ phổ (Phương pháp BLUP).

GS.TS, NGƯT Đặng Vũ Bình chia sẻ với người chăn nuôi phương pháp chọn giống di truyền số lượng (Phương pháp BLUP). Ảnh: Thùy Linh.
Trong đó, phương pháp di truyền phân tử là ưu việt nhất, nhưng giá thành hiện rất cao do phải dùng chip để gắn trên từng cá thể để theo dõi các chỉ tiêu sinh học; Phương pháp chọn giống theo hệ phổ và kiểu hình cũng rất hiệu quả nhưng ít tốn kém hơn cho thấy phù hợp với điều kiện, quy mô chăn nuôi tại Việt Nam.
Theo GS.TS Đặng Vũ Bình, các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu và tìm ra được 2.573 bộ gen quy định các tính trạng trên con gà, trong đó có 454 gen liên quan tới tăng trọng, 618 gen liên quan tới chất lượng thịt cao, 805 gen liên quan tới việc tiêu tốn thức ăn (FCR) và 696 gen liên quan tới việc ngăn ngừa các loại bệnh tật.
Tuy nhiên, làm sao để trong hàng nghìn bộ gen quy định tính trạng đó tìm ra được các gen có ưu điểm về tăng trọng, chất lượng thịt, FCR và phòng chống bệnh tật vào một giống gà cụ thể lại là câu chuyện rất dài hơi, mỗi đơn vị làm giống lại có phương pháp và bí quyết riêng.
Ở Công ty TNHH MTV Gà giống Dabaco (Tập đoàn Dabaco Việt Nam), phương pháp BLUP được áp dụng một cách triệt để nhằm tối ưu hóa phương pháp chọn giống nhưng vẫn đáp ứng tiêu chí giá thành sản phẩm, phù hợp với đại trà người chăn nuôi.
Với phương pháp BLUP, gà được nuôi riêng mỗi chuồng kết hợp thụ tinh nhân tạo. Từ đó, giúp theo dõi được chính xác năng suất từng cá thể, lập được hệ phổ từng cá thể để từ đó tính được giá trị giống.
Bên cạnh đó, cùng với sự kết hợp của trí tuệ nhân tạo AI và cảm biến IoT internet vạn vật, Dabaco lần đầu tiên ra mắt ngành chăn nuôi khái niệm “Giảm tiêu tốn thức ăn bằng chọn giống”, gọi tắt là chỉ tiêu RFI (RFI = lượng thức ăn ăn vào (FI) trừ đi lượng thức ăn ước tính (EFI) thay vì phương pháp tính truyền thống là FCR (lượng thức ăn tiêu tốn/kg tăng trọng).
Các kết quả nghiên cứu trên nhiều thế hệ gà tại Dabaco cho thấy, tương quan di truyền giữa RFI và FCR khẳng định chọn lọc theo RFI sẽ kéo theo tối ưu FCR một cách bền vững. Qua đó, góp phần tăng tốc độ tăng trọng của gà thêm khoảng 2gam/con/ngày, tương ứng tăng 5%, nhờ vậy giảm được FCR trung bình 0,23kg thức ăn/kg tăng trọng, tương ứng 6,25%.

Các chỉ tiêu vượt trội của giống gà Mía số 1 và J số 1. Ảnh: DBC.
Từ những số liệu “biết nói” trên có thể khẳng định, chọn giống bằng RFI không chỉ giữ nguyên mà còn đồng thời cải thiện cả tốc độ lớn lẫn lượng cám tiêu thụ. Bằng chứng là giống gà Mía số 1 dòng trống của Dabaco vốn có tốc độ tăng trọng nhanh lại được chọn theo RFI nên đã giảm tiêu tốn thức ăn một cách rõ rệt khi thời gian nuôi chỉ còn 95 - 105 ngày (Mía truyền thống 105 - 110 ngày), trọng lượng bình quân 2.3 - 2.6 kg; FCR 2.65 - 2.8 kg/kg tăng trọng (Mía truyền thống FCR 2.8 - 3 kg thức ăn/kg tăng trọng); tỷ lệ sống trên 95%, vượt trội hẳn so với giống gà Mía truyền thống.
Sau thành công với giống gà Mía số 1 bằng phương pháp chọn giống BLUP kết hợp RFI, Dabaco tiếp tục cho ra mắt sản phẩm J số 1 cũng ưu việt không hề thua kém Mía số 1 cũng bằng phương pháp chọn giống trên.
Điểm nổi bật của J số 1 Dabaco là khả năng tối ưu hiệu quả sử dụng thức ăn, giảm FCR, rút ngắn thời gian nuôi nhưng vẫn đạt trọng lượng thương phẩm tốt. Theo giới thiệu của Công ty TNHH MTV Gà giống Dabaco, gà J số 1 có thể đạt trọng lượng khoảng 2.45 - 2.5kg trong thời gian nuôi 80 - 85 ngày, tỷ lệ sống cao, chất lượng thịt thơm ngon, phù hợp mô hình chăn nuôi an toàn sinh học.
Ông Nguyễn Như Phán, Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Gà giống Dabaco chia sẻ, từ lợi thế về phương pháp chọn tạo giống BLUP và RFI, Dabaco đang xây dựng cho gà J số 1 mô hình “2 tăng - 2 giảm” hiện nhận được sự quan tâm rất lớn từ người chăn nuôi, đó là tăng năng suất, tăng chất lượng thịt, giảm tiêu tốn thức ăn và giảm thời gian nuôi.

Ông Nguyễn Như Phán, Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Gà giống Dabaco giới thiệu sản phẩm mới giống gà J số 1. Ảnh: Thùy Linh.
Một điểm ưu việt khác của gà J số 1 Dabaco là khả năng thích nghi linh hoạt với các mô hình chăn nuôi khác nhau. Trong đó, mô hình công nghiệp tập trung với mật độ cao, giống gà này phát huy tối đa tốc độ tăng trưởng và khả năng kiểm soát an toàn sinh học.
Mô hình bán chăn thả, nuôi thả vườn: Gà J số 1 vẫn giữ được tập tính vận động tốt, giúp thịt săn chắc hơn, phù hợp với các mô hình kinh tế trang trại vườn - ao - chuồng truyền thống tại nhiều địa phương.
Sự linh hoạt này giúp gà J số 1 không chỉ dành riêng cho các doanh nghiệp lớn mà còn là lựa chọn hàng đầu cho các hộ chăn nuôi cá thể muốn chuyển đổi sang hướng sản xuất hàng hóa chuyên nghiệp.
Đánh giá về giống gà J số 1 mới của Dabaco, ông Trương Văn Đại, chủ trang trại nhiều năm nuôi gà Mía số 1 của Dabaco ở xã Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên cho hay, giống gà J số 1 Dabaco không chỉ đáp ứng được yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường và người tiêu dùng mà còn giúp người chăn nuôi giảm rủi ro về dịch bệnh, giảm chi phí đầu vào, hạ giá thành, tăng lợi nhuận và lợi thế cạnh tranh khi xuất bán.
Còn bà Vũ Thị Nhàn, ở Chí Linh, Hải Phòng cho rằng, sau khi Dabaco ra mắt giống gà mới J số 1, bà và nhiều trang trại ở địa phương đã đặt hàng và nuôi thử nghiệm hàng chục nghìn con. Sau một tháng chăm sóc, đến nay đàn gà giống đều phát triển và thích nghi rất tốt với điều kiện chăn nuôi ở địa phương.
Ông Nguyễn Hoàng Nguyên, Giám đốc Công ty TNHH MTV Gà giống Dabaco nhấn mạnh, việc kết hợp giữa công nghệ chọn giống hiện đại, tối ưu hiệu quả sử dụng thức ăn và mô hình chăn nuôi không kháng sinh là xu hướng tất yếu không thể đạo lộn, việc áp dụng mô hình, phương pháp mới này giúp người chăn nuôi giảm chi phí, nâng cao năng suất, hạ giá thành và chăn nuôi hiệu quả bền vững hơn, từ đó tạo ra các sản phẩm đáp ứng xu thế tiêu dùng xanh, an toàn trong tương lai.